Bộ Tư pháp đang lấy ý kiến về dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 76/2006/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp. Theo đó, đối với việc đăng ký kết hôn, khi các bên đăng ký kết hôn có mục đích trục lợi, mua bán, xâm phạm tình dục, bóc lột sức lao động đối với phụ nữ tăng mức xử phạt tối đa lên đến 10 triệu đồng. Tuy nhiên, về biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm này chưa được thống nhất.



Hiện nay, khi công dân đăng ký kết hôn phải tuân theo các quy định luật hôn nhân và gia đình, thủ tục và trình tự đăng ký kết hôn theo Nghị định 158/2005/NĐ-CP . Nếu có hành vi vi phạm các quy định, nghị định này về đăng ký kết hôn thì người đăng ký kết hôn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 76/2006/NĐ-CP.

Thí dụ, đối tượng sử dụng giấy tờ tùy thân của em ruột để đem đi đăng ký kết hôn, khi bị phát hiện thì sẽ xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là đề nghị TAND có thẩm quyền hủy bỏ chứng nhận đăng ký kết hôn đã cấp theo Nghị định 76.

Vấn đề đặt ra trong thực tiễn giải quyết và áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành là sự không thống nhất về thẩm quyền hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn giữa Toà án và UBND cấp huyện khi công dân vi phạm các quy định, nghị định về đăng ký kết hôn.

Nếu chỉ có Nghị định 158 được áp dụng thì UBND cấp huyện là cơ quan có thẩm quyền ra Quyết định thu hồi, hủy bỏ những giấy tờ do UBND cấp xã cấp trái với quy định, trong đó có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn.

Nhưng khi Nghị định 76/2006/NĐ-CP  được ban hành thì thẩm quyền hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn lại chuyển qua cho Tòa án, dẫn đến mâu thuẫn khi áp dụng. Theo quy định này, cơ quan nào cấp giấy chứng nhận kết hôn trái pháp luật thì cơ quan đó có trách nhiệm thu hồi, bãi bỏ. Tòa án không cấp giấy kết hôn nên không có thẩm quyền thu hồi hay hủy bỏ khi giấy kết hôn được đăng ký trái pháp luật.

Trên thực tế, Toà án chỉ giải quyết những nhu cầu về hôn nhân và gia đình, như huỷ việc kết hôn trái pháp luật, ly hôn, công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, caps dưỡng, chia tài sản khi ly hôn…Sự chồng chéo và không thống nhất về thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận đăng ký kết hôn giữa hai cơ quan Nhà nước, giữa các quy định của Nghị định 158 và Nghị định 76 dẫn đến vướng mắc khi các cơ quan có thẩm quyền áp dụng giải quyết.

Thực tế, giấy chứng nhận kết hôn được UBND cấp xã, hoặc tỉnh cấp . Do đó theo dự thảo Nghị định 76 sửa đổi, bổ sung nên giao cho UBND cấp huyện hoặc tỉnh (đối với việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài) là cơ quan đầu mối thống nhất có thẩm quyền xử lý giấy chứng nhận kết hôn. Sổ đăng ký kết hôn được quản lý lưu trữ ở các cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn nêu trên nên khi Quyết định thu hồi hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn trái pháp luật sẽ thuận tiện cho việc quản lý lưu trữ tình trạng hôn nhân của các công dân và công dân có quyền đăng ký kết hôn lại khi đủ các điều kiện đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật hiện hành.

Ngoài ra các vấn đề liên quan đến luật hôn nhân gia đình, nếu còn điều gì chưa rõ, bạn có thể liên hệ với cơ quan luật TDV của chúng tôi để được hỗ trợ